Trang chủ / Sản phẩm / Hệ thống tạo và quản lý thẻ nạp

Hệ thống tạo và quản lý thẻ nạp

11:50:31 08/12/2016

Như ta đã biết bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào cũng đều cho phép quản lý dữ liệu trên bộ nhớ và ngôn ngữ Java cũng không là ngoại lệ. Bên cạnh đó lý do để chọn Java là do Java có khả năng tương thích với rất nhiều dòng hệ điều hành trong đó đặc biệt là tương thích với SUN.

Với giao diện Web để truy cập vào hệ thống, được phát triển trên nền Sun Java, kết hợp công nghệ applet và jsp hệ thống sẽ chạy ổn định trên các trình duyệt web như là IE, Firefox, Chrome…,hiển thị các chức năng của hệ thống... qua màu sắc trực quan, nổi bật.  Giải pháp kết hợp gam màu khác nhau biểu thị trạng thái giúp giảm thiểu sự mệt mỏi cho người sử dụng.

Hơn nữa sự cố có thể phát sinh nhiều tại một thời điểm. giải pháp hỗ trợ các tính năng lọc hiển thị, tùy biến giao diện, phân quyền chức năng… , linh hoạt sao cho tối ưu với đặc thù Doanh nghiệp.

 Các đặc điểm mới nổi bật như sau:

  • Hệ thống nhận các file từ TTTC&TK cung cấp về máy chủ của mình sẽ tiến hành convert file, chuẩn hóa số liệu.
  • Dữ liệu được convert sẽ được import vào Database phục vụ cho việc kiểm tra dữ liệu
  • Việc tiến hành import số liệu lớn có thể dùng một số công nghệ như JDBC, Oracle Loader để đảm bảo tốc độ.
  • Sau khi đã có dữ liệu hệ thống sẽ tiến hành công việc kiểm tra thẻ và quyết định đưa vào kho số. Để đảm bảo tốc độ cho việc kiểm tra dữ liệu hệ thống sẽ phải áp dụng công nghệ In-Memory để xử lý.

Như vậy trong mô hình của hệ thống sự thay đổi lớn nhất sẽ đến từ module tổng hợp số liệu theo công nghệ IN-Memory. Việc áp dụng công nghệ này sẽ đảm bảo cho tốc độ xử lý của hệ thống tăng lên rất nhiều do việc tính toán xử lý sẽ được xử lý trên Memory

1.1.1. Nhận và import mã thẻ vào kho từ các file TTTC&TK cung cấp

File dữ liệu sẽ được tải về qua mạng internet hoặc mạng cục bộ LAN thông qua giao thức truyền nhận file FTP. Điều này hết sức thuận tiện cho việc lắp đặt máy chủ của hệ thống tạo và quản lý thẻ nạp tiền vì không phụ thuộc vào server dữ liệu. Chúng tôi sử dụng giao thức FTP để thực hiện việc truyền nhận file qua mạng vì các lí do sau:

Thứ nhất, đây là giao thức được dùng rất phổ biến hiện nay trên thế giới bởi tốc độ truyền nhận dữ liệu cao, tính an toàn và chính xác của dữ liệu được đảm bảo.

Thứ hai, để truyền nhận được dữ liệu qua mạng, cần phải có một chương trình điều phối xử lý việc truyền nhận dữ liệu và đảm bảo liên lạc giữa các máy tại server mà với giao thức FTP, chương trình FTP Server đảm nhận các chức năng đó đã được tích hợp sẵn trong các hệ điều hành dành cho máy chủ như Windows Server 2003, Linux...Đây là chương trình rất mạnh, cho phép thực hiện hàng chục nghìn kết nối tại cùng thời điểm. Như vậy hệ thống tạo và quản lý thẻ nạp tiền chỉ cần thực hiện kết nối đến FTP Server và thực hiện việc tải file.

Chương trình tải file sẽ được thiết kế độc lập và chạy ngầm trên máy chủ ứng dụng của hệ thống. Việc kết nối tới file từ các server chứa file mà TTTC&TK cung cấp thực hiện việc tải file dữ liệu mới về sẽ được tự động thực hiện định kì sau một khoảng thời gian nhất định do người dùng thiết lập.

Đảm bảo tránh sự cố :

Để tránh trường hợp treo chương trình khi có sự cố out hoặc quá tải đường truyền mạng, chương trình sẽ thực hiện việc hủy bỏ kết nối khi sau một khoảng thời gian nhất định không thể thực được hiện kết nối tới server hoặc không nhận được tín hiệu trả lời từ phía server khi đang tải dữ liệu. Trường hợp file dữ liệu đang được tải dở thì hủy bỏ việc tải file cũng như dữ liệu đã được tải về của file đó, file sẽ được tải lại ở lần kết nối thành công tiếp theo.

Chức năng truyền nhận file FTP theo tham số mở

1.1.2. Hệ thống quản lý bán hàng

Khi kế toán VAS nhận được yêu cầu mua thẻ từ Đại lý sẽ tiến hành phân phối mã thẻ cho Đại lý. Kế toán VAS sẽ nhập vào Tên đại lý, Mệnh giá thẻ, Số lượng thẻ cần mua. Các thẻ này được phân phối theo nguyên tắc FIFO: thẻ nào vào kho trước được phân phối trước.

Tiếp theo sẽ đến phần xác nhận của Kế toán trưởng VAS xác nhận bán hàng theo đúng Đại lý, số lượng, mệnh giá như đại lý yêu cầu.

Sau khi xác nhận xong, kế toán VAS kết xuất ra các file đã được mã hóa để chuyển cho Đại lý.

1.1.3. Khối chức năng Quản trị hệ thống

1.1.3.1.Quản lý chức năng

Chức năng này hiện lên danh sách các chức năng theo các nhóm menu. Đây là danh sách các chức năng của hệ thống quản trị cũng như các chức năng bên ngoài của hệ thống. Thông thường sau khi một hệ thống đã được triển khai, thì danh sách các chức năng này rất ít thay đổi, chỉ những người quản trị ở cấp cao mới vào đây và thêm các chức năng, nhóm chức năng mới nếu cần. Những người quản trị ở mức thấp hơn thông thường sẽ vào chức năng này để sắp xếp lại thứ tự các chức năng, sẽ gán danh sách các quyền truy cập mặc định cho các chức năng.

 Tại chức năng này NSD có thể xem, thêm sửa xóa các thông tin sau:

  • Nhóm chức năng
  • Chức năng
  • Thêm các quyền mặc định cho các chức năng
  • Chỉnh sửa lại thứ tự hiển thị của các chức năng trên các menu của hệ thống

1.1.3.2.Quản lý người sử dụng

Chức năng này quản lý người sử dụng và nhóm người sử dụng theo mô hình cây. Trong chức năng này, người quản trị có thể phân quyền cho nhóm hay cho người dùng các quyền truy cập, quyền dữ liệu và lịch truy cập.

Đúng theo việc quản lý theo mô hình cây, sau khi phân quyền thì công thức được áp dụng là :

  • Quyền được ưu tiên cho các thực thể con, các thực thể chi tiết hơn
  • Nếu mức con, mức dưới được gán quyền, thì đó luôn là mức quyết định quyền.

1.1.3.3.Quản lý giám sát tiến trình hệ thống

Chức năng này cho phép người quản trị giám sát các tiến trình hoạt động của hệ thống, cho phép đặt lịnh chạy định kỳ của các tiến trình hệ thống:

1.1.3.4.Backup và Restore hệ thống

Chương trình có tiến trình chạy ngầm hàng ngày sẽ lưu các thông số cấu hình của hệ thống cùng với cơ sở dữ liệu dự phòng (Standby Database) chạy song song với database chính. Những thay đổi trên database chính được liên tục chuyển sang standby database. Vì vậy khi database chính xảy ra sự cố thì hệ thống có standby database restore lại dữ liệu cho database chính

1.1.4. Khối chức năng tạo và quản lý thẻ nạp tiền

1.1.4.1.Chức năng giảm tải hệ thống bao gồm cơ sở dữ liệu, ứng dụng

Tiến trình System Alert có ý nghĩa: gửi mail hoặc tin nhắn thông báo các lỗi thường  gặp của hệ thống như hết tablespace, chưa tạo đủ partition, đĩa cứng đầy..v.v..Theo đó, người quản trị, vận hành hệ thống có thể xử lý kịp thời khi hệ thống gặp sự cố

Các tham số chính của tiến trình như:

  • Tham số mail: gửi/ nhận
  • Tham số kết nối database: để login và kiểm tra các lỗi liên quan database
  • Tiến trình này chạy tự động, check và gửi mail khi có lỗi xảy ra hoặc đặt lịch chạy vào những khoảng thời gian nhất định

System alert dùng để giám sát tải của data base

1.1.4.2.Tiến trình FTP file dữ liệu

Các tiến trình FTP file dữ liệu có chức năng nhận các file dữ liệu từ các hệ thống nghiêp vụ. Các tiến trình này đều được tham số hóa để có thể dễ dàng thay đổi nguồn nhận file và định dạng file.

Hoạt động tiến trình

  • Kết nối thành công tới server theo đúng địa chỉ khai báo ở tham số host
  • Tất cả các file trên máy chủ ở thư mục khai báo trong tham số FTPDir được lấy về thư mục được khai báo trong tham số LocalDir
  • Trong quá trình xử lý, file lấy về phải được đưa vào TempDir trước khi đưa vào LocalDir
  • Log được hiển thị trên màn hình Thread Monitor cho NSD biết đã lấy về những file nào, file nào đang xử lý, ngày giờ, tên file và dung lượng của file được xử lý.
  • Log được lưu đúng vào thư mục khai báo tham số LogDir
  • Các file được lấy về thỏa mãn đúng với tham số Wildcard
  • Dữ liệu lấy về đúng với dữ liệu thực tế có trên server

1.1.4.3.Tiến trình convert file dữ liệu

Các tiến trình convert thực hiện việc chuẩn hóa hoặc cắt bỏ những dữ liệu không cần thiết từ nguồn dữ liệu thô.

  • Tiến trình lấy các file có trong thư mục TargetFolder để tiến hành convert sang file .txt lưu trong thư mục ExportFolder
  • Sau khi convert: thực hiện insert file vào bảng DATA_FILE với trạng thái thành công hoặc thất bại(bằng câu lệnh quy định trong tham số ConvertSuccessSqlScript và ConvertFailureSqlScript). Xóa file ở thư mục TargetFolder: Nếu convert thành công, đẩy file vào thư mục BackupDir, nếu convert lỗi thì đưa file vào thư mục RejectFolder
  • Log quá trình xử lý file được lưu trữ trong thư mục khai báo trong tham số LogDir
  • Hiển thị log lên màn hình Thread Monitor cho NSD biết đã convert những file nào, bao nhiêu bản ghi được xử lý, ngày giờ

1.1.4.4.Các tiến trình import dữ liệu

Các tiến trình Import dữ liệu đã được chuẩn hóa vào DB của hệ thống.

Hoạt động tiến trình:

  • Hệ thống lấy file từ thư mục đã khai báo tại tham số trường TargetFolder
  • Nếu còn có file thì thực hiện bước import vào CSDL, còn hết file thì sẽ kết thúc
  • Tiến trình thực hiện import vào bảng dữ liệu tương ứng với các trường được khai báo tham số trường ControlFileContent
  • Trong quá trình xử lý, file được lưu tại thư mục khai báo tham số trường TempFolder
  • File đã import xong được lưu tại thư mục khai báo trường tham số BackupFolder
  • File import lỗi được lưu tại thư mục khai báo tham số trường RejectFolder
  • Log được hiển thị trên màn hình Thread Monitor cho NSD biết đã lấy về những file nào, file nào đang xử lý, ngày giờ, tên file và dung lượng của file được xử lý.
  • Log được lưu đúng vào thư mục khai báo tham số LogDir

1.1.4.5.Tiến trình kiểm tra mã thẻ nạp

So sánh các số SCNUM trong CSDL kho số đã xóa với các số SCNUM trong CSDL kho số đã dùng, khi có số SCNUM trùng nhau trong hai CSDL, tiến hành xóa số SCNUM trong CSDL đã dùng, đưa số SCNUM này vào CSDL chưa dùng, xóa số SCNUM khỏi CSDL đã xóa và lưu vào trong CSDL lưu trữ

1.1.4.6.Tạo vào quản lý kho 9 số

CSDL phần mềm 9 số được phân thành 2 loại: CSDL các dãy số đã sử dụng và CSDL các dãy số chưa sử dụng. Hai CSDL này được nhập 1 lần vào lần đầu tiền xây dựng khi đối chiếu với CSDL sẵn có của phần mềm 9 số cũ. Việc tạo ra 9 số sẽ sử dụng CSDL các dãy số chưa sử dụng để tăng hiệu năng và tốc độ tạo mã số.

Đầu ra: File dữ liệu (.TXT) gồm có:

Dãy 9 số ngẫu nhiên có giá trị duy nhất (Scratch Card Numbers – SCNUM), cho phép tạo ra các dãy giá trị thuộc các khoảng khác nhau mà vẫn đảm bảo đủ tổng số mã thẻ được yêu cầu.

1.1.4.7.Chức năng quản lý kho số đã xóa

Thống kê và xóa những dãy mã thẻ đã xóa khỏi hệ thống dựa trên các file dữ liệu được Trung tâm Tính cước và Thanh khoản (TT TC & TK) cung cấp.

1.1.4.8.Chức năng quản lý kho thẻ nạp tiền

Kho thẻ nạp tiền được chia thành 2 loại:

  • Kho mã thẻ
  • Kho thẻ in

Yêu cầu tạo kho thẻ nạp tiền chi tiết theo mệnh giá, quản lý được thẻ đã ACTIVE hay chưa để đề nghị ACTIVE.

Kho thẻ nạp tiền được chia làm 3 loại:

  • Kho mã thẻ sẵn sàng bán ra: chứa các mã thẻ có thể bán hàng ngay cho Đại lý/ Nhà in, là các mẫ thẻ đã được LOAD và ACTIVE hết lên hệ thống IN
  • Kho mã thẻ chưa sẵn sàng: là những mã thẻ chưa được INHCM xác nhận về tình trạng LOAD và ACTIVE lên hệ thống IN
  • Kho mã thẻ đã bán: là các mã thẻ đã được bán cho Đại lý/ Nhà in

1.1.5. Khối chức năng Quản lý bán hàng

1.1.5.1.Chức năng quản lý Đại lý/Nhà in

Chức năng quản lý đại lý hỗ trợ NSD thêm mới, sửa, xóa, tìm kiếm đại lý.

Mỗi đại lý/ Nhà in được đại diện bởi các thông số:

  • Mã đại lý/Nhà in
  • Tên đại lý / Nhà in
  • Địa chỉ
  • Số hợp đồng
  • …….

Giao diện của chức năng

 

 

 

Bài viết liên quan